Giác Ngộ - Mỗi xứ sở có một đặc sản tiêu biểu, đó là niềm tự hào của nhân dân địa phương. Khánh Hòa đã từ lâu nổi tiếng là “xứ trầm hương”, nhưng nếu chúng ta không biết bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này, không chủ động đầu tư để gây trồng thuần hóa cây dó bầu ngay từ bây giờ, không tái tạo lại nó, thì e rằng niềm tự hào đó ngày mai đây sẽ chỉ còn là vang bóng.
1. Trong nguồn tài nguyên rừng, trầm hương và kỳ nam (gọi tắt là trầm kỳ) là hai loại lâm đặc sản có giá trị kinh tế lớn nhất. Trầm hương và kỳ nam là phần gỗ chứa nhiều nhựa thơm sinh ra từ thân cây dó bầu
mọc hoang trong những cánh rừng già Trung bộ. Cây dó có 2 loại: dó bầu
(tên khoa học là Aquilaria agallocha) và dó gạch hay còn gọi là dó niệt
(Aquilaria malaccensis). Dó gạch cũng cho trầm nhưng mùi thơm nồng,
hắc, có vị tanh và giá trị thấp. Chỉ có dó bầu mới cho ta trầm tốt và
kỳ nam. Cây dó bầu cao từ 10m - 40m, vỏ xám, thân thẳng ít nhánh. Dó
bầu là loài cây ưa ẩm, chịu bóng râm, thường phân bố trên độ cao từ 300
- 600 mét so với mặt biển. Không phải bất kỳ cây dó bầu nào cũng tạo
thành trầm hương. Cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào làm sáng tỏ một
cách rốt ráo cơ chế hình thành trầm hương trong cây dó bầu. Về nguyên
nhân tạo trầm kỳ của cây dó, có nhiều giả thuyết khác nhau. Trầm hương đã tạo nên cho Khánh Hòa tên gọi đặc biệt - Ảnh: Bảo Toàn Từ thế kỷ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đã viết trong sách “Phủ biên tạp lục”: “Hương
ấy là do ở ruột cây dó kết thành. Dó có ba loại: dó lưỡi trâu thì thành
khổ trầm, dó niệt thì thành trầm hương, dó bầu thì thành kỳ nam hương.
Người ta thấy cây già lá vàng mà nhỏ, thân nhiều u bướu, thì biết ngay
là có hương, chặt mổ để lấy”. Gần đây, khi trầm hương có giá trị
xuất khẩu cao trên thị trường thế giới, đã có nhiều công trình khoa học
đề cập đến hương liệu quý này. Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng trầm
hương là một sản phẩm do bệnh lý cộng sinh với tế bào gỗ tạo thành. Dân
đi điệu (đi tìm trầm) chuyên nghiệp cũng cho rằng muốn xác định
cây dó bầu có trầm hay kỳ thì trước hết nhìn mặt bì (vỏ) cây dó đó. Mặt
bì có dạng kết cấu như thế nào đó thì bên trong mới có trầm kỳ. Người
ta nghiệm rằng trên cây dó nơi nào có những chỗ lõm vào hoặc lồi ra mà
da cây khô nứt, nổi lên những chấm màu tím, đỏ nâu là dấu hiệu có kỳ
nam. Như vậy, mặt bì có thể là một lớp nấm cộng sinh ở vỏ cây báo hiệu
bên trong thân cây đã có trầm kỳ. Sự hình thành trầm hương có liên quan chặt chẽ tới cấu trúc di
truyền của loài, tuổi cây và một loạt các tiêu chí sinh thái khác như
cường độ chiếu sáng, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, thành phần đất đai...
Về nguyên lý, để cây dó tạo thành trầm phải có hai yếu tố: - Chấn thương cơ giới mạnh, như bị mảnh bom đạn khi nổ găm vào thân
cây, hoặc do con người dùng rìu, rựa chặt sâu vào thân cây, những lỗ
hổng lớn do sâu bệnh đục khoét, hoặc những vị trí gãy cành, gãy ngọn do
gió bão gây ra, hoặc những vị trí tỉa cành tự nhiên của cây. - Tại những nơi chấn thương ấy, sau một thời gian dài từ 10 - 15
năm, dưới tác đông mỗi ngày một ít của những chỉ tiêu sinh thái vừa kể
trên, những bào tử sẵn có nằm trong không gian môi trường tác động vào
vết thương gây ra những phản ứng hóa học bên trong cây dó và từ đó tạo
thành trầm hương, tùy theo mức độ tác động mà cho ta trầm tốt hay xấu. Các sản phẩm là từ Trằm hương - Ảnh: Bảo Toàn Trong thực tế, không phải vết thương nào trên cây dó cũng tạo trầm,
nhưng cách lý giải này xem ra có độ xác thực hơn cả, chẳng thế mà xưa
nay những những người đi điệu khi gặp những cây dó bầu chưa ăn trầm,
đã biết tác động vào nó bằng cách chém vài nhát rìu sâu vào rễ, thân
hoặc nhánh cây- là những nơi có nhiều khả năng tạo trầm- để tạo ra vết
thương, với hy vọng sau đó một thời gian cây sẽ được tạo trầm. 2. Người Việt đã biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng trầm kỳ từ bao
giờ, đến nay chưa tìm được tài liệu nào xác minh rõ, nhưng chắc chắn đã
từ rất lâu đời. Sử sách còn ghi lại rằng trong số những đặc sản, báu
vật mà Nhà nước phong kiến xâm lược phương Bắc trực tiếp vơ vét hoặc
bắt dân ta cống nạp hàng năm, có trầm hương bên cạnh ngà voi, tê giác,
ngọc trai, yến sào, chim sâm cầm... Sách “Thiên nam dư hạ tập”
(có thể xem như một bộ từ điển bách khoa của người Việt ở thế kỷ XV)
chép rằng hai nguồn Trà Đình, Ô Kim huyện Bồng Sơn; thôn Nha Ca, nguồn
Cầu Bông, huyện Phù Ly và huyện Tuy Viễn đều hàng năm cống kỳ nam
hương, tức là thứ ấy. Cách phân loại trầm kỳ từng được người xưa xem xét ti mỉ, kỹ lưỡng. Cũng sách “Phủ biên tạp lục” (soạn năm 1776) của Lê Quý Đôn ghi rõ: “Kỳ
nam hương xuất tự đầu núi các xã thuộc hai phủ Bình Khang và Diên Khánh
xứ Quảng Nam là thứ tốt nhất, xuất tự Phú Yên và Quy Nhơn là thứ
hai...Họ Nguyễn trước đặt đội Am sơn, hàng năm cứ tháng hai thì đi tìm
kiếm, tháng sáu thì trở về, số lượng nhiều ít không nhất định, lấy sắc
sáp trắng là tốt nhất, sắc xanh đầu vịt là thứ hai, sắc sáp xanh là kém
nữa, sắc sáp vàng lại càng kém nữa, sắc như vằn hổ thì kém nhất; lấy
chất mềm như phấn đông, có thể cắt thành miếng là hạng tốt nhất, bền
rắn là hạng xấu. Tục ngữ nói: “Nhất bạch, nhị thanh, tam hoàng, tứ
hắc”. Muốn phân biệt trầm với kỳ nam thì lấy hình, chất, khí vị mà phân
biệt. Trầm hương thì cứng, nặng, ít thơm, sắc nhạt, vị đắng;, kỳ nam
thì mềm nhẹ, có hơi dầu, thơm mát, vị gồm đủ cay ngọt, chua, đắng; đốt
trầm hương thì khói kết xoáy rồi sau mới tan, đốt kỳ nam thì hơi khói
lên thẳng mà dài. Trầm hương chỉ có thể giáng khí, kỳ nam có thể trị
trúng phong, đàm suyễn, cấm khẩu, mọi chứng, mài vào nước mà rỏ và đốt
khói cho hơi hương vào mũi thì tỉnh lại ngay. Đau bụng đầy tức thì ngậm
là khỏi ngay. Lại có thể trừ được tà khí, uế khí, nên trong chỗ hành
dịch, hành quân không thể không dùng. Kiêng nhất là bọc giấy, nên chứa
vào đồ sứ hay đồ thiếc, rồi lấy bẹ chuối bọc vào cho kín, phơi giữa chỗ
mặt trời, đến chiều lấy ra thì nước dầu tiết ra. Cũng không nên phơi
luôn”. Hiện nay, việc phân loại trầm kỳ vẫn còn mang tính cảm quan, chưa có
tiêu chuẩn nào đánh giá cho thật đúng phẩm cấp của từng loại. Dân gian
thường chia trầm hương làm nhiều loại: trầm kiến - có lỗ có hang do kiến đục làm tổ trước khi cây thành trầm; trầm rễ - do rễ cây sinh ra; trầm tốc - ở nơi thân cây sinh ra, miếng trầm đặc, không có lỗ; trầm mắt tử - kết tạo trên nhánh cây. Trầm tốc có nhiều nhất và trên thị trường, chia ra làm nhiều thứ giá bán khác nhau: tốc hoa màu vàng lạt, có những chấm lốm đốm như hoa; tốc nước màu vàng lợt, chất ươn ướt và nặng; tốc xám màu xam xám như tro; tốc lọ nghẹ màu đen đen như bồ hóng và nặng; tốc đá nặng và trông hình sắc như đá; tốc ớt sắc vàng lợt, vị cay như ớt xiêm; tốc hương
sắc vàng lợt, hương đượm, thường bao quanh kỳ nam, cho nên có nhiều gân
nhiều điểm kỳ nam lẫn vào. Trầm ít dùng làm thuốc, thường dùng để đốt
lấy hương trong các dịp cúng tế, lễ lạc, giá trị thua kỳ nam nhưng
thông dụng hơn. Hình dáng, màu sắc của một miếng trầm rất đa dạng, có
khi là một miếng gỗ hình trụ hoặc hình chóp nón, có miếng màu nâu nhạt,
miếng màu đen sẫm. Kỳ nam được phân biệt với trầm hương ở mùi thơm và lượng dầu kết
tinh. Dầu ở kỳ nam kết tinh giống như sáp ong, tỏa mùi thơm ngào ngạt.
Dựa vào màu sắc, người ta chia kỳ nam thành 4 loại theo thứ tự giá trị:
nhất bạch, nhì thanh, tam huỳnh, tứ hắc. Kỳ bạch có màu trắng
ngà, chất mềm và rất nhiều dầu; kỳ thanh có màu xanh biếc, nhiều dầu
thì mềm, ít dầu thì cứng; kỳ huỳnh vàng như sáp ong, chất cứng và năng,
để lâu khô dầu trở nên nhẹ; kỳ hắc có màu đen bóng. Theo kinh nghiệm
dân gian, kỳ nam là vị thuốc quý dùng trị các chứng đau bụng kèm ói
mửa, tiêu chảy rất hay (mài với nước hoặc ngâm rượu mà uống) hoặc dùng
trong trường hợp người bị trúng gió, bất tỉnh, cấm khẩu (mài với nước
cạy miệng đổ vào hoặc đốt xông vào lỗ mũi) hiệu nghiệm như thần. Phụ nữ
có thai kỵ kỳ nam, không nên uống hoặc mang theo trong người vì có thể
bị sẩy thai. Hình tượng trầm hương và kỳ nam đã được các vua nhà Nguyễn
cho khắc trên Cao đỉnh và Nhân đỉnh đặt trong Thế miếu của Hoàng thành
Huế. Trầm kỳ không chỉ là nguồn dược liệu mà còn là hương liệu cho
nhiều loại mỹ phẩm: xà phòng, nước hoa, dầu gội đầu..., là chất khử
độc, khử trùng cho môi trường, làm chất ướp xác và là vật không thể
thiếu trong các buổi lễ của nhiều tôn giáo. Mùi thơm của trầm xông lên
tại các đình, chùa, đền, miếu tượng trưng cho sự tôn kính thiêng liêng.
Vì vậy trầm hương và kỳ nam ngày càng có giá trị trên thị trường thế
giới. 3. Trước đây cây dó bầu mọc nhiều ở các vùng rừng núi của tỉnh Khánh Hòa. Sách “Đại Mỗi xứ sở có một đặc sản tiêu biểu, đó là niềm tự hào của nhân dân địa phương. Khánh Hòa đã từ lâu nổi tiếng là “xứ trầm hương”,
nhưng nếu chúng ta không biết bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý
giá này, không chủ động đầu tư để gây trồng thuần hóa cây dó bầu ngay
từ bây giờ, không tái tạo lại nó, thì e rằng niềm tự hào đó ngày mai
đây sẽ chỉ còn là vang bóng.
Tri Bửu







